Các di tật bẩm sinh ở trẻ và cách ngăn ngừa

Mang thai đứa con trong bụng, cha mẹ nào cũng hạnh phúc vô bờ bến, với bao nhiêu hi vọng, trông chờ đứa con chào đời. Nhưng trên thực tế có những bé khi chào đời đã phải mang trên mình các dị tật bẩm sinh, không những gây nhiều thiệt thòi cho bé về thể chất và tinh thần mà còn là nỗi buồn của cả gia đình. Tất nhiên khi đã sinh con ra, dù bé có thông minh lanh lợi hay là khù khờ, dù bé có xinh đẹp hay là xấu xí thì cha mẹ vẫn không bao giờ thay đổi tình yêu thương của mình. Nhưng dẫu sao, chúng ta cần nghiên cứu và nỗ lực hết sức để phòng tránh những rủi ro này.

Theo tổ chức Y tế Thế giới, dị tật bẩm sinh là tất cả những bất thường cấu trúc, chức năng hoặc sinh hoá có từ khi mới sinh cho dù các dị tật đó có được phát hiện ở thời điểm đó hay không. Theo định nghĩa đó, thì có nhiều dị tật bẩm sinh được phát hiện ngay từ trong thai kỳ, cũng có những dị tật bẩm sinh được phát hiện muộn hơn sau khi sinh ra. Nhưng dù được phát hiện sớm hay muộn thì chúng đều có nguyên nhân từ trước khi sinh gây ra.

1. Nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh

Rất khó để có thể phân loại hay nhận biết chinh xác các nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh nhưng chúng ta có thể nhận diện một số nguyên nhân như dưới đây. Tất nhiên những nguyên nhân này có thể ra những dị tật khác nhau với mức độ khác nhau, tuỳ từng trường hợp (ví dụ nguyên nhân là tiếp xúc với hoá chất, thì tuỳ sự tiếp xúc nhiều hay ít, thường xuyên hay không mà sẽ gây dị tật ở mức độ rất khác nhau). Chúng gồm những nguyên nhân như:

Do yếu tố di truyền

Nghĩa là nguyên nhân do các đột biến gen hay đột biến nhiễm sắc thể. Với những gia đình mà các thành viên trong gia đình đã có các tiền sử về khuyết tật bẩm sinh, hoặc người mẹ đã có tiền sử về xảy thai, thai dị dạng thì có khả năng cao là người bố hoặc mẹ hoặc cả hai mang các bất thường về di truyền, và có khả năng truyền các bất thường này cho con, gây nên dị tật ở thai nhi. Các dị tật bẩm sinh do di truyền phổ biến thường là các dị tật về tim, các bệnh di truyền như bệnh máu khó đông, huyết tán bẩm sinh,…

Do người mẹ có các bệnh lý

Nếu mẹ có những bệnh lý mà không điều trị triệt để trước khi mang thai thì có thể gây ra nguy cơ dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Chẳng hạn: mẹ mắc đái tháo đường sẽ gây các tật ở tim, tất cả các khuyết tật lúc đẻ, tật vô sọ và gai đốt sống. Mẹ bị thủy đậu: gây seo da, giảm sẩn các chi, nhỏ nhãn cầu, đục nhân mắt, thiểu năng tâm trí…

Do người mẹ khi mang thai bị mắc các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, virus

Các tác nhân vi sinh vật phổ biến có thể kể đến bao gồm: Rubella, Cytomegalovirus, viêm gan siêu vi B, HPV, Varicella zoster virus (Virus gây bệnh thủy đậu), giang mai,… Người mẹ bị nhiễm trùng trong quá trình mang thai gây ra nhiều tổn thương cấu trúc và dị tật ở thai nhi. Ví dụ, mẹ khi mang thai bị nhiễm Cytomegalovirus khi trẻ sinh ra có thể bị giảm thính giác, giảm thị lực và chậm phát triển trí tuệ. Thai phụ nhiễm Rubella trong ba tháng đầu của thai kì có thể khiến trẻ bị mắc hội chứng Rubella bẩm sinh, bao gồm: chậm phát triển, tật nhỏ đầu, đục thủy tinh thể, bệnh tim bẩm sinh, điếc, chậm phát triển trí tuệ.,…

Do yếu tố trong cấu tạo tử cung của người mẹ khi mang thai

Do người mẹ sử dụng thuốc trong quá trình mang thai

Ví dụ như: dùng penicillin liều cao có thể làm thai chết lưu, tetracylin khiến trẻ bị vàng răng, vàng da dị hình ở các chi… Khi có thai mà thường xuyên dùng thuốc an thần sẽ gây rối loạn chức năng gan ở trẻ, dễ xuất huyết, chậm phát triển tâm thần, dị tật tim bẩm sinh, vàng da, bú kém, dị dạng nội tạng, các chi ngắn. Các thuốc giảm đau cũng gây những dị tật như methadone gây suy hô hấp khi sinh. Aspirin gây chảy máu ở trẻ sơ sinh…

Do những hóa chất độc hại hay các chất gây ô nhiễm

Trong môi trường mà người mẹ có thể tiếp xúc trong thời gian mang thai như: chì (có nhiều trong khói xe) gây giảm trí lực, thủy ngân gây nhỏ hộp sọ co cứng các chi, chậm khôn, dioxin và các thuốc bảo vệ thực vật gây quái thai, dị hình.

Tuổi của người mẹ và người cha khi mang thai

Trẻ có nguy có cao mắc các dị tật bẩm sinh về di truyền hơn khi người mẹ mang thai ở độ tuổi từ 35 trở đi và người bố ở độ tuổi từ 50 trở đi. Người phụ nữ khi cao tuổi chất lượng trứng thường không được đảm bảo, trứng trong quá trình phân chia nhiễm sắc thể (NST) dễ bị lỗi, gây ra các bất thường về di truyền, là nguyên nhân gây nên các dị tật bẩm sinh ở thai nhi. Tuổi người cha cũng đóng vai trò quan trọng trong sức khỏe của thai nhi. Ở độ tuổi trên 50, dù người đàn ông vẫn còn khả năng sản sinh ra tinh trùng hằng ngày nhưng càng nhiều tuổi sẽ càng tăng nguy cơ bị sai sót ở một vài bản sao ADN của tinh trùng, từ đây làm ảnh hưởng đến sức khỏe của đứa trẻ sắp sinh hoặc đến quá trình thai nghén.

2. Điều trị

Nhiều dị tật bẩm sinh có thể điều trị được nếu kịp thời phát hiện và điều trị càng sớm càng tốt và hiệu quả điều trị càng cao. Người ta có thể sử dụng các phương pháp như:

- Phẫu thuật chỉnh hình cho các dị tật về hình thái như sứt môi, hở hàm ếch..

- Phát hiện các bất thường ở người mẹ khi mang thai có thể điều trị thay thế bằng các nội tiết tố như trong bệnh suy giáp, bệnh tăng sản thượng bẩm sinh

- Điều trị các biến chứng của dị tật bẩm sinh

- Phục hồi chức năng cho các di tật bẩm sinh về rối loạn vận động, thiểu năng trí tuệ.

3. Phòng ngừa dị tật bẩm sinh ở trẻ

Từ những phân tích về nguyên nhân của dị tật bẩm sinh, chúng ta có thể phòng tránh được những nguyên nhân gây dị tật. Chúng ta có thể áp dụng các biện pháp sau đây để phòng ngừa các dị tật bẩm sinh cho bé yêu của mình:

Nên mang thai trong độ tuổi sinh đẻ

Tuổi của bà mẹ khi mang thai là một yếu tố quan trọng trong phòng tránh các dị tật bẩm sinh cho trẻ. Người mẹ trên 35 tuổi hoặc bố tự 50 tuổi trở lên, hoặc người mẹ quá trẻ dưới 18 tuổi khi mang thai đều có nguy cơ rất cao gây dị tật cho thai nhi.

Phòng tránh bệnh

Trước khi có thai cần đi khám và điều trị dứt điểm các bệnh mạn tính. Trong 3 tháng đầu của thai kỳ cần hết sức giữ gìn sức khỏe tránh để mắc các bệnh do virus gây ra như cảm cúm, sốt virus…

Tránh hoá chất và không lạm dụng thuốc

Trước và trong thời gian mang thai, mẹ cần tránh tiếp xúc với các tác nhân gây hại như tia xạ, hay nguồn nước bị nhiễm khuẩn, thủy ngân, hóa chất, thuốc nhuộm, thuốc trừ sâu… Trong quá trình mang thai mẹ cũng tránh lạm dụng các thuốc có hại cho thai nhi như thuôc chống co giật, thuôc kháng giáp, thuôc trị ung thư, một số thuốc kháng sinh, thuốc an thần, thuốc giảm đau và nếu có bắt buộc phải sử dụng các loại thuốc đó thì cần dùng theo chỉ định của các bác sĩ chuyên khoa.

Thường xuyên thăm khám

Siêu âm thai định kỳ để có thể phát hiện kịp thời các dị tật bẩm sinh nếu có để có các biện pháp can thiệp.

Ăn uống lành mạnh

Trong quá trình mang thai, người mẹ cần ăn uông đầy đủ dinh dưỡng, tránh uống rượu hay dùng các thuốc kích thích trong quá trình mang thai như thuốc lá, cà phê… Đảm bảo một chế độ dinh dưỡng tốt là đảm bảo cho sức khoẻ của mẹ trước và sau khi sinh cũng như sự phát triển toàn diện của trẻ về sau này.

  • 11.5k lượt xem0 bình luận
  • Khác
    • Chia sẻ
    • Sao chép liên kết
    • Báo cáo
Báo cáo vi phạm
Để giúp cho cộng đồng Bé Yêu tốt hơn, hãy mô tả sự cố mà bạn gặp phải?