Mối liên hệ giữa dinh dưỡng và sự phát triển hệ răng của trẻ

Hệ răng của trẻ muốn phát triển tối ưu cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các yếu tố dinh dưỡng và các yếu tố ngoài dinh dưỡng. Khi một trong các yếu tố nêu trên bị khiếm khuyết, đều có thể dẫn đến tình trạng răng hư, xấu, mất răng …

Mối liên hệ giữa dinh dưỡng và sự phát triển hệ răng của trẻ

Một trẻ dinh dưỡng bình thường, phát triển tốt thì răng sẽ mọc theo trình tự sau

Stt Tuổi bé

Loại răng mọc

Tổng số răng
 1 5 – 9 4 răng cửa giữa 4
 2 7 – 11 4 răng cửa bên 8
 3 10 – 18 4 răng hàm đầu tiên (răng tiền hàm) 12
 4 16 – 24 4 răng nanh 16
 5 20 – 30 4 răng hàm 20

Khi trẻ tròn 30 tháng thì trong miệng đã đầy đủ 20 răng sữa: Hàm trên có 10 răng. Hàm dưới có 10 răng. Bộ răng vĩnh viễn mọc bắt đầu từ 5-6 tuổi đến 12 tuổi. Riêng 4 răng số 8 mọc từ năm 18 đến 25 tuổi. 

Thông thường, đa số răng vĩnh viễn được hình thành bên dưới răng sữa. Khi răng vĩnh viễn mọc lên sẽ đẩy vào các chân răng sữa làm cho các chân răng sữa bị tiêu dần dần, cuối cùng bị lung lay và rụng, nhường vị trí cho các răng vĩnh viễn mọc, thế chỗ vị trí răng sữa tương ứng. Thời gian mọc răng vĩnh viễn chính là thời gian rụng của răng sữa

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hệ răng

Yếu tố dinh dưỡng

Một chế độ ăn đầy đủ và cân đối rất cần thiết để bảo đảm cho răng bé phát triển với cấu trúc vững chắc., ngay từ thời kỳ bé còn là bào thai cho đến suốt cuộc đời về sau. Chế độ ăn uống của người mẹ ảnh hưởng đến răng con ngay khi các cháu còn trong bào thai. 

Mầm răng sữa và mầm răng vĩnh viễn đã được hình thành trong thai nhi vào tuần lễ thứ 8. Do vậy chế độ ăn uống của người mẹ phải có nhiều chất canxi, chất khoáng… để tạo nên xương và răng của thai nhi.

moi-lien-he-giua-dinh-duong-va-su-phat-trien-he-rang-cua-tre

Trong suốt 3 năm đầu đời, một chế độ dinh dưỡng tốt, cân bằng nói chung rất quan trọng đối với trẻ. Riêng đối với sự phát triển hệ răng, chế độ dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp những dưỡng chất cần thiết cho quá trình cấu tạo nướu và răng của trẻ. Đây là giai đoạn căn bản, xảy ra quá trình khoáng hóa của lớp men răng và ảnh hưởng đến sự phát triển của răng trước khi mọc và trong quá trình mọc của hệ răng.

Những yếu tố dinh dưỡng tốt cho răng

Ăn nhiều thực phẩm giàu Canxi

Canxi là thành phần quan trọng trong cấu trúc xương và răng (99%). Canxi được cơ thể hấp thụ rất tốt từ sữa. 

Thức phẩm giàu Canxi: Các loại rau xanh đậm, cua ốc, tôm, tép, cá, cá nhỏ nguyên xương, các sản phẩm từ sữa, đậu và các sản phẩm từ đậu (đậu hũ) … 

Để canxi được hấp thu tốt hơn, hằng ngày nên cho trẻ chơi, sinh hoạt, nô đùa trong nắng liên tục ít nhất  30 phút mỗi ngày

Đảm bảo nhu cầu Vitamin D

Vitamin D có tác dụng giúp cơ thể sử dụng tốt canxi và phospho để hình thành và duy trì hệ xương răng vững chắc.

Muốn canxi được hấp thu và sử dụng tốt thì cơ thể phải có đủ vitamin D, nếu không, có khi cho dù trẻ ăn uống đủ canxi nhưng vẫn bị thiếu canxi dẫn đến còi xương. Vì vậy, ta còn gọi những trẻ còi xương là “còi xương do thiếu vitamin D”. 

Trong tự nhiên, rất ít thực phẩm có lượng đáng kể Vitamin D. Tuy nhiên, cũng có thể kể đến dầu gan cá (nhất là những loại cá béo: cá thu, cá hú …), trứng gà, những loại dầu ăn được bổ sung vitamin D. 

Nguồn cung cấp chủ yếu vitamin D cho cơ thể là do cơ thể tổng hợp vitamin D từ các tiền vitamin D ở dưới da, dưới tác động quang hóa của tia cực tím trong ánh sáng mặt trời. 

moi-lien-he-giua-dinh-duong-va-su-phat-trien-he-rang-cua-tre

Như vậy khi trẻ được nuôi dưỡng không đầy đủ hoặc không đúng, cũng như thiếu ánh sáng mặt trời do nhà ở chật chội, tối tăm, do mặc quần áo quá nhiều hoặc trẻ bị “nhốt” trong nhà suốt ngày … trẻ sẽ dễ bị còi xương.

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, đặc biệt là trẻ từ 3 tháng đến 18 tháng. Triệu chứng thần kinh biểu hiện sớm nhất là trẻ ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi, rụng tóc sau gáy. Có thể mềm xương sọ, trán dồ, chậm mọc răng, tay chân cong, đi vòng kiềng …

Ăn nhiều thực phẩm giàu Phospho

Là chất khoáng có nhiều thứ 2 trong cơ thể sau canxi. Có chức năng hình thành và duy trì hệ xương răng vững chắc và duy trì các chức phận khác của cơ thể. Phospho trong thức ăn động vật có giá trị sinh học cao hơn so với thức ăn thực vật. Chưa đến nay, chưa phát hiện tình trạng thiếu phospho do nguồn thực phẩm động vật và thực vật chưá phospho có mặt khắp mọi nơi

Ăn nhiều thực phẩm giàu Magie

Cùng với canxi, magie góp phần trong quá trình khoáng hoá tạo xương, răng. Magie có nhiều trong tự nhiên nhất là các hải sản cá biển và cá nước ngọt, thịt các loại, rau xanh, trong các loại hạt toàn phần, các loại đậu đỗ.

Ăn nhiều thực phẩm giàu Vitamin C

Vitamin C tham dự vào quá trình tổng hợp chất collagen (phân tử cơ bản của các mô liên kết). Việc thiếu hụt trầm trọng vitamin C sẽ dẫn đến bệnh scorbut, tế bào ontoplast bị thoái hóa, tủy răng, nướu răng trở nên xốp làm nướu răng bị viêm loét, dễ chảy máu chân răng và dẫn đến rụng răng.

Ngoài ra, vitamin C còn giúp tăng cường hệ miễn nhiễm, chống nhiễm khuẩn chân răng. Các vết thương sẽ mau lành nếu các mô được bão hòa lượng vitamin C. 

Rau xanh, quả tươi như cam, chanh,quýt, bưởi, nước ép cà chua, bông cải xanh, xoài … là nguồn dinh dưỡng cung cấp nhiều vitamin C.

Nguyên nhân thiếu vitamin C có thể do trẻ thiếu sữa mẹ, ăn thiếu rau xanh, trái cây tươi, ăn thức ăn nấu quá chín hoặc trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn, rối loạn tiêu hóa … Bệnh thiếu sinh tố C thường xảy ra ở trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi, bệnh biểu hiện qua xuất huyết dưới da và niêm mạc như chảy máu nướu răng, sưng nướu, men răng kém chất lượng hay bị sún răng.

Ăn nhiều thực phẩm giàu Vitamin A

moi-lien-he-giua-dinh-duong-va-su-phat-trien-he-rang-cua-tre

Vitamin A có tác dụng bảo vệ mắt, chống quáng gà và các bệnh khô mắt, đảm bảo sự phát triển bình thường của bộ xương, răng, bảo vệ niêm mạc và da, tăng cường sức đề kháng cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn.

  • Thực phẩm giàu Vitamin A chủ yếu có trong thực phẩm nguồn gốc động vật: gan, thịt, trứng.
  • Thức ăn nguồn gốc thực vật có thể kể đến những loại củ quả màu vàng/đỏ đậm (cà chua, carrot, đu đủ …), rau xanh đậm (rau ngót, rau muống, rau dền …), các loại dầu thực vật được bổ sung vitamin A

Ăn nhiều rau quả 

Rau, hoa quả, ngũ cốc, khoai củ, mía cây … cung cấp nhiều vitamin, khoáng chất (nâng cao sức đề kháng), bổ sung chất xơ giúp trẻ nhuận tràng, chống táo bón. Chất xơ còn có tác dụng chà răng, đồng thời thoa nắn cho nướu răng thêm mạnh và bền chắc. 

Nhu cầu xơ khoảng 18 – 20g/ ngày (nên khuyến khích trẻ ngày ăn 2 lần các loại quả, nên ăn ≥ 3 lần các loại rau những loại rau quả quen thuộc trẻ thích ăn)

Những loại thực phẩm cần hạn chế

Nên giới hạn trước tiên là các bánh, kẹo ngọt, nước ngọt có đường, nước ngọt có gas và kem. Hạn chế dùng những thức ăn dễ dính răng chẳng hạn như kẹo dừa, mè xửng, nước ngọt, chè …. là một trong những yếu tố góp phần làm cho răng dễ bị sâu hơn. 

Nếu ăn những thực phẩm nêu trên, phải uống nước, súc miệng ngay, để chậm sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn và chất đạm sẵn có trong nước miếng kết hợp với bột, đường thành mảng bám răng, nôm na gọi là “bựa răng”: vi khuẩn trong miệng tác động lên bột, đường biến ngọt thành chua ăn mòn men răng, xâm nhập tới ngà răng, tiến vào tủy răng (sâu răng). 

Không cho trẻ ngậm núm vú giả.

Không nên có suy nghĩ răng sữa không quan trọng vì nó sẽ rụng, và được thay thế nên lơ là, hoặc không chăm sóc. Đây là một suy nghĩ không  đúng vì dưới răng sữa có mầm răng vĩnh viễn phát triển liên tục và mọc ra khi răng sữa rụng. Nếu răng sữa không được chú ý chăm sóc sẽ dẫn đến các răng vĩnh viễn bị ảnh hưởng, có thể mọc không đúng chỗ, chen lấn nhau.

Tạo cho trẻ thói quen đi khám răng từ nhỏ. Điều này giúp nha sĩ phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh sâu răng, đưa ra các biện pháp ngăn ngừa cũng như những lời khuyên cho sức khỏe răng miệng.

Nếu răng sữa bị sâu, cần đưa trẻ đến cơ sở nha khoa để khám và điều trị sớm. Có một hàm răng chắc, khỏe trẻ sẽ ăn uống và phát triển toàn thân tốt.

moi-lien-he-giua-dinh-duong-va-su-phat-trien-he-rang-cua-tre

Ở nơi có nhiều Fluor thì phải hạn chế sử dụng nguồn nước nhiều Fluor, thực hiện biện pháp bảo vệ không khí ở những vùng công nghiệp phát triển. Lượng Fluor trong thực phẩm hấp thu kém hơn Fluor trong nước nhưng chế độ ăn vẫn cần cân đối về canxi – phospho cũng như phối hợp thêm vitamin D. Ở nơi có ít Fluor, nên thêm Fluor vào nước ăn, sử dụng nhiều thực phẩm có Fluor cao.

Lượng mcg Fluor trên 100g thực phẩm ăn được:

Stt Thực phẩm Fluor (mcg)
 1 Đậu tương 1470
 2 Khoai lang 862
 3 Cá trích 160
 4 Cá thu 150
 5 Cà rốt 061
 6 Bột mỳ 053
 7 Khoai tây 050
 8 Cà chua 050
 9 Nấm mỡ 031
 10 Bưởi 025
 11 Chuối tiêu 023
 12 Dưa chuột   020
 13 Hành tây 012
 14 Súp lơ 012

Những vấn đề thường gặp ảnh hưởng đến sự phát triển hệ răng của trẻ

  • Điều trị biếng ăn, suy dinh dưỡng sớm sẽ giúp trẻ bắt kịp sự  tăng trưởng của các bạn cùng lứa tuổi. Nhằm tránh thiếu đa vi chất ảnh hưởng sự phát triển hệ răng
  • Thường xuyên cho trẻ ăn những thực phẩm có nhiều canxi như: Cua đồng, tôm, tép, ốc, cá.
  • Khi bé không có điều kiện để tiếp xúc nhiều ánh nắng bố mẹ cần tham khảo ý kiến của các Bác sĩ chuyên khoa để được hướng dẫn cụ thể.

Thói quen mút tay lâu dài

Lý do thói quen này được xếp vào thói quen không tốt do có thể đẩy các răng phía trước ra ngoài, gây ra hiện tượng “răng vẩu”. Trường hợp mút vú cao su hay bú bình cũng có thể gây ra hiện tượng “răng vẩu” nhưng không đáng kể.

Muốn tránh cho trẻ khỏi bị thói quen mút tay, ngay từ khi còn rất nhỏ, các bậc phụ huynh cần kiên nhẫn loại bỏ thói quen này ở trẻ, không để trẻ bị đói và bất an.

Ngậm bình sữa bú khi ngủ:

Bú bình dễ gây ra hiện tượng sâu răng, thường gọi đó là “sâu răng do bú bình”. Đây là do trẻ bú bình sữa, nước trái cây hay dùng các dung dịch ngọt trong suốt ngày ngay cả khi ngủ. Trong khi ngủ chỉ có rất ít nước bọt được tiết ra để làm giảm axít trong miệng và bảo vệ răng, do đó những răng phía trước sâu rất nhanh.

Tật cắn móng tay và gặm bút ở trẻ

Các thói quen cắn móng tay, gặm bút , cắn các vật cứng rất có hại vì sẽ làm cho răng trẻ bị mòn, dễ rạn nứt, mẻ, ê , đau răng và giảm độ ngon miệng khi ăn uống lâu ngày còn có thể làm chết tủy răng và dễ có  nguy cơ bị sưng tấy hay nhiễm trùng phần da xung quanh móng gây mất vệ sinh hay dễ nhiễm các bệnh giun sán.

Việc cắn móng tay có thể là do tâm lý hay do thói quen và trẻ làm việc này một cách không ý thức. Cha mẹ tránh la mắng, phạt trẻ vì có thể làm cho tật xấu càng phát triển hơn. Cha mẹ cần giải thích cho trẻ một cách nhẹ nhàng , xây dựng ý thức từ bỏ thói xấu này ở trẻ và nhắc nhở khi trẻ quên cho vào miệng , cha mẹ tìm cách lôi cuốn con trẻ vào những chú ý mới như những trò chơi khác cần sử dụng tay để trẻ không có cơ hội cắn móng tay.

moi-lien-he-giua-dinh-duong-va-su-phat-trien-he-rang-cua-tre

Dùng tăm xỉa răng sau bữa ăn

Tránh dùng tăm xỉa răng với động tác “xỉa”quá mạnh , đặc biệt là chọc xuyên tăm qua kẽ răng vì nếu dùng các vật nhọn xỉa răng thường xuyên ,có thể làm trẻ bị mòn răng, tổn thương ,nhiễm trùng nướu và sẽ làm hở kẽ răng ngày càng rộng ra thêm tạo cơ hội mắc thức ăn nhiều và dễ dàng hơn.

Để loại sạch mảng bám trẻ nên chải răng bằng bàn chải, làm sạch kẽ răng bằng chỉ tơ nha khoa. Chỉ cho trẻ xỉa răng khi thật cần thiết như khi bị thịt, thức ăn mắc vào răng. Nên cho trẻ dùng tăm xỉa răng đầu nhỏ vừa với kẽ răng và tương đối mềm để không gây tổn thương nướu.

Thói quen gây lây nhiễm bệnh lý ở miệng

Sâu răng và nha chu là hai bệnh răng miệng phổ biến gây ra do vi khuẩn, nên sẽ lây từ răng này qua răng khác và từ miệng người này qua miệng người khác. 

Bệnh nha chu phát từ nướu răng, gây chảy máu nướu, viêm tấy ửng đỏ làm đau nhức khó chịu. Dần dần, răng sẽ lung lay ngã theo nhiều hướng, xáo trộn khớp cắn. Trường hợp nặng hơn kèm theo xuất hiện mủ quanh cổ răng (abces dentaire), lấy tay ấn nhẹ mủ sẽ tràn ra, miệng có mùi hôi. Cuối cùng là răng rụng hàng loạt.

Trong miệng trẻ sơ sinh không có vi khuẩn gây sâu răng. Khi răng bắt đầu mọc, vi khuẩn sẽ được truyền từ mẹ (hoặc người nuôi dưỡng) cho trẻ qua việc hôn hít, nếm thức ăn hay làm sạch núm vú giả bằng cách mút trong miệng trước khi cho trẻ bú. 

Do không thường xuyên làm vệ sinh răng miệng, sau khi ăn không chải răng ngay. Khi răng miệng giữ không sạch, độc tố do vi khuẩn trong cao răng tiết ra gây kích thích nướu và vi khuẩn “phục kích” ở kẽ răng, ở nướu làm nướu sưng đỏ, gây cảm giác khó chịu. Cao răng bám sâu xuống nướu gây viêm nướu dẫn đến tiêu xương, tạo ra túi mủ, làm nướu bị tách ra không bám dính vào răng nữa, dây chằng và xương ổ răng bị tiêu hủy, tạo thành hệ thống túi mủ, răng lung lay ở nhiều mức độ nặng nhẹ, sau đó phải nhổ bỏ.

Để phòng ngừa

  • Không nên nhai hay cắn thức ăn rồi đút cho trẻ.
  • Không nên cho trẻ sử dụng chung muỗng, đũa với người bị sâu răng.
  • Không cho trẻ sử dụng chung bàn chải đánh răng.
  • Tránh thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh.
  • Khám răng miệng định kỳ (6 tháng 1 lần).
  • Không được sử dụng răng cắn những vật cứng gây sang chấn và chấn thương khớp cắn. Các răng mọc lệch lạc cần được khám và điều chỉnh.

moi-lien-he-giua-dinh-duong-va-su-phat-trien-he-rang-cua-tre

 

Những điều mẹ cần làm để giúp bé có những chiếc răng đầu tiên khỏe đẹp

  • Mẹ phải ăn uống đầy đủ ngay từ thời kỳ mang thai, đặc biệt là những thực phẩm giàu đạm, giàu calcium …
  • Tập cho bé những thói quen ăn uống tốt: ăn đầy đủ các chất, hạn chế ăn quà vặt, đặc biệt là những thức ăn, thức uống chứa nhiều đường
  • Tập cho bé súc miệng chải răng đúng cách ngay sau khi ăn và tối trước khi đi ngủ với kem đánh răng dành cho trẻ em
  • Đưa bé đi khám răng định kỳ mỗi 6 tháng
  • Bổ sung Fluor khi cần thiết và phải theo chỉ định của bác sĩ

Nguồn: Bệnh Viện Nhi Đồng Thành Phố
  • 1.5k lượt xem0 bình luận
  • Khác
    • Chia sẻ
    • Sao chép liên kết
    • Báo cáo
Báo cáo vi phạm
Để giúp cho cộng đồng Bé Yêu tốt hơn, hãy mô tả sự cố mà bạn gặp phải?