Nuôi dạy con của người Do Thái - Phần 1

Tóm tắt:

Do Thái là một trong những dân tộc ưu tú và xuất sắc trên thế giới, đã sản sinh ra những danh nhân vĩ đại cho nhân loại, rất nhiều doanh nhân thành đạt và là dân tộc thông thạo nhiều ngoại ngữ. Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng người Do Thái rất coi trọng giáo dục gia đình, rất quan tâm đến thuyết Thai giáo học và Giáo dục sớm. Điều đặc biệt hơn là nó đã được lưu truyền lại trong kinh Torahn và kinh Talmudh của người Do Thái từ lâu đời. Theo nhà giáo dục người Do Thái - Bawe “Trong cuộc đời con người không có gì quan trọng hơn là giáo dục trẻ từ nhỏ, chúng ta nên tìm mọi cách để trí tuệ, khả năng của trẻ được phát huy tối đa”. Vì vậy, cha mẹ người Do Thái qua nhiều thế hệ luôn coi trọng sự phát triển tiềm năng, bồi dưỡng khả năng thiên phú cho con và cho rằng trẻ từ 0-6 tuổi là thời kỳ đại não phát triển nhanh nhất, trẻ tiếp thu kiến thức nhanh nhất, giáo dục sớm là phát triển tiềm năng cho con, đặt nền tảng vững chắc cho con sau này. Họ luôn dạy con: “Người có trí tuệ là người hạnh phúc”, “Địa vị của học thức còn cao hơn địa vị của Quốc vương”, “Khi nhà cháy con nên đem theo trí tuệ”… Với người Do Thái sách vở không chỉ là “kho báu” mà còn có nhiều điều bổ ích, nên nó luôn ngọt ngào với tất cả các gia đình. Họ luôn quan tâm giáo dục ngôn ngữ, nhiều ngoại ngữ, rèn luyện khả năng ghi nhớ cho trẻ từ nhỏ, giải đáp mọi thắc mắc, kích thích trẻ hứng thú học tập và tìm hiểu kiến thức, thế giới xung quanh trẻ. Gần đây một số nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng chính việc sử dụng nhiều ngôn ngữ cùng một lúc, nói ngôn ngữ đan xen đã, kích hoạt sự kết nối các nơ-ron thần kinh trong não bộ của trẻ. Nội dung:

I. Tôn thờ trí tuệ

Cha mẹ người Do Thái luôn dạy con từ khi còn nhỏ ; “Người có trí tuệ là người hạnh phúc”, “Địa vị của học thức còn cao hơn địa vị của Quốc vương”…Họ không chỉ coi trọng trí tuệ, mà còn có nhiều phương pháp để tích luỹ trí tuệ, bồi dưỡng trí tuệ cho trẻ, vận dung nhiều biện pháp giúp trẻ học tập hiệu quả.

1. Khi nhà bị cháy, con cần mang theo trí tuệ. Người Do Thái luôn sùng bái trí tuệ và tôn trọng kiến thức. Họ luôn dạy con cái “Nếu nhà mình bị cháy, con cần mang theo trí tuệ của mình, vì trí tuệ sẽ mãi mãi ở bên cạnh con, không ai có thể lấy trí tuệ của con ”, dạy con cái biết quý trong sách vở, chăm chỉ học hành để có kiến thức uyên bác. Họ không chỉ cổ vũ, động viên mà còn bồi dưỡng, hướng dẫn con khả năng tự học và tiếp nhận kiến thức thông qua nhiều hình thức như thu thập tài liệu, lựa chọn tài liệu hợp lí, giao lưu với nhiều người để học hỏi, kiến thức không phải chỉ có trong sách mà còn ở trong cuộc sống hàng ngày.

2. Từ nhỏ con đã học thuộc Kinh Thánh. Dựa vào trạng thái ý thức ghi nhớ khác nhau, người Do Thái chú ý và áp dụng hai loại: Một là ghi nhớ vô thức, hai là ghi nhớ có ý thức, trẻ càng nhỏ khả năng ghi nhớ vô thức càng cao (Điều này đã có trong bài “Giáo dục sớm” và “Đợi đến mẫu giáo thì đã muộn”). Cha mẹ người Do Thái đã và luôn biết cách vận dụng hai loại ghi nhớ này để dạy trẻ nhỏ. Họ cho trẻ nhỏ học thuộc “Kinh thánh Cựu Ước”, họ không chỉ muốn trẻ hiểu biết về văn hoá của dân tộc mình, mà còn giúp chúng bồi dưỡng “hệ thống trí nhớ thiên tài”. Ngoài việc nâng cao trí nhớ cho trẻ, họ còn quan tâm đến việc kết hợp suy nghĩ và ghi nhớ để kích thích sự sáng tạo của trẻ và dạy chúng chỉ nên nhớ những điều quan trọng.

3. Con cần học ngoại ngữ từ nhỏ. Là dân tộc có rất nhiều thương gia tài giỏi, ngoài khả năng phi thường trong kinh doanh, họ đều có một điểm chung là rất giỏi ngoại ngữ. Người Do Thái rất coi trọng ngoại ngữ và thường nói “Có thể nói được vài thứ tiếng, giá trị của bạn bằng mấy người cộng lại”. Vì vậy, họ luôn tận dụng mọi điều kiện thuận lợi nhất để trẻ học và nắm vững ngoại ngữ một cách hiệu quả như kích thích hứng thú học ngoại ngữ thông qua trò chơi, học ngoại ngữ thông qua những vật dụng hàng ngày và tạo không khí, môi trường học ngoại ngữ trong gia đình.

Các nhà nghiên cứu về người Do Thái kết luận rằng: Người Do Thái trộn tiếng mẹ đẻ vào những ngôn ngữ mới muốn học, ngôn ngữ mới đó sẽ trở nên thân thuộc. Thay vì cảm giác chán nản, người học luôn có cảm giác chủ động, bộ não được kích thích bởi nhiều thách thức thú vị.

Việc học ngôn ngữ mới theo cách lồng ghép này sẽ trở thành một cuộc đua đầy trí tuệ và hấp dẫn, khi họ luôn thách thức bản thân phải nhớ được nhiều hơn, nói được dài hơn và nhuần nhuyễn hơn những câu trong ngôn ngữ mà họ đang học, đồng thời thể hiện được sự kiên nhẫn cao hơn trong học tập.

Sau cùng phần thưởng cho những lần tập luyện hào hứng và kiên trì này sẽ là việc tận hưởng cảm giác tự do và độc lập trong việc giao tiếp bằng ngoại ngữ một cách dễ dàng. Như vậy, chỉ với phương pháp học ngoại ngữ hiệu quả được áp dụng hàng ngàn năm nay mà người Do Thái đã luôn làm chủ mọi ngôn ngữ mà họ muốn chinh phục. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, việc học nhiều ngôn ngữ ngay từ khi còn nhỏ đã tạo sự kích thích, tăng khả năng kết nối các nơ-ron thần kinh là một trong những nguyên nhân tạo cho người Do Thái được nằm trong những chủng tộc thông minh và ưu tú trên thế giới.

4. Sách vở luôn ngọt ngào. Người Do Thái cho rằng, trong sách không chỉ có “kho vàng” mà còn có rất nhiều điều bổ ích nên họ rất yêu sách. Đặt tủ sách ở đầu giường là truyền thống, là thái độ sùng kính đối với sách và cũng để đọc sách thường xuyên hơn. Họ luôn muốn con cái ham đọc sách từ nhỏ và muốn trẻ giữ được đam mê này. Vì vậy vào mỗi buổi tối, cả gia đình thường ngồi đọc sách; đặt mua định kì tạp chí hoặc báo, đồng thời giám sát việc đọc của trẻ; hàng tuần đưa trẻ đến thư viện, bảo tàng, triển lãm làm tăng kiến thức và hứng thú học tập cho trẻ; cha mẹ người Do Thái luôn là tấm gương tốt để truyền đạt kiến thức và hứng thú đọc sách cho con cái.

5. Học bất cứ lúc nào cũng không muộn. Người Do Thái thích câu nói của Labi “Trong vườn cây giáo dục, không có cây kết quả sớm, cũng không có cây kết quả muộn, chỉ có cây không ngừng mở rộng trí tuệ và tư tưởng” và họ luôn coi danh ngôn của Seqier làm lời răn dạy bản thân và cổ vũ người khác học tập “Lúc này không học, bao giờ mới học”. Vì vậy với họ, việc học tập không phụ thuộc vào tuổi tác, không phụ thuộc vào thân phận giàu nghèo, ai có ý chí đều nên đọc sách để học hỏi kiến thức. Bất cứ ở đâu, lúc nào, người Do Thái đều coi kiến thức và trí tuệ là mục đích hướng tới, với họ, sách vở là nguồn dinh dưỡng của tiền bạc và sự sống.

6. Thói quen đặt câu hỏi trong khi học. Đặt câu hỏi trong quá trình học tập chứng tỏ trẻ có suy nghĩ, nếu bản thân trẻ tự tìm ra đáp án đúng sẽ kích thích sự say mê học tập, kích thích sự phát triển tư duy của trẻ. Tất nhiên, muốn trẻ có thói quen đặt câu hỏi, cha mẹ cần tích cực trả lời các câu hỏi của trẻ một cách kiên nhẫn; hướng dẫn trẻ đặt câu hỏi, kích thích sự tò mò và quan sát cuộc sống xung quanh và thường ngày cha mẹ cần đặt ra nhiều câu hỏi cho trẻ.

7. Trí tuệ của con bắt đầu từ sự chú ý. Người Do Thái rất đồng tình với câu nói của Labi “Thiên tài bắt nguồn từ khả năng chú ý. Đây là cánh cửa dẫn đến thế giới tri thức, không có cánh cửa này nhiều tri thức khó có thể được trẻ nắm bắt”. Chú ý là một hiện tương tâm lí, trẻ sẽ phát triển dần từ chú ý vô thức (sau khi sinh) thành khả năng chú ý có ý thức. Nếu trẻ thiếu khả năng tập trung chú ý, việc học tập, kết quả công việc của trẻ bị ảnh hưởng và ngược lại nếu trẻ làm việc tập trung và chuyên tâm, kiến thức và trí tuệ của trẻ sẽ được nâng cao. Cha mẹ người Do Thái luôn căn cứ vào các quy luật phát triển tâm lí để bồi dưỡng khả năng chú ý có ý thức và giúp trẻ tập trung chú ý hơn. Để làm việc đó họ chú ý loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài, tạo ra một môi trường học tập tốt; không để trẻ quá mệt mỏi bằng cách thay đổi cách thức học tập; kịp thời làm tăng sự tự tin cho trẻ bằng những lời cổ vũ hoặc quà tặng; bổ sung dinh dưỡng hợp lý cho trí não; và quan tâm đảm bảo thời gian và chất lượng giấc ngủ cho trẻ.

8. Suy nghĩ mang lại kiến thức và trí tuệ cho con. Người dân Do Thái có câu “Không là con lừa cõng trên lưng nhiều sách”, vì vậy họ luôn dạy trẻ không bắt chước máy móc, không ỷ lại những kiến thức đã có mà phải thường xuyên rèn luyện, trau dồi để biến kiến thức thành trí tuệ và năng lực của mình. Để thực hiện được điều đó họ luôn khuyến khích con hoài nghi, đặt câu hỏi và suy nghĩ, tra cứu tìm câu trả lời; làm cho cuộc sống của con thêm phong phú như cùng đọc sách, cùng thảo luận, tăng giao lưu, tiếp xúc… nhằm kích thích trí tò mò và khám phá ; hạn chế tính ỷ lại của trẻ.

9. Khuyến khích bé trải nghiệm. Việc để trẻ trải nghiệm có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức cho trẻ, giúp trẻ phát huy năng lực và trí tuệ của bản thân. Hộp bút màu là món quà hay được người mẹ Do Thái tặng con, nó giúp trẻ phân biệt, sử dụng màu sắc và thường tổ chức các cuộc thi hội hoạ. Đồ chơi không chỉ để chơi mà còn có thể tháo lắp để tìm tòi, đó là cách người Do Thái khuyến khích trẻ tìm tòi nghiên cứu từ khi còn nhỏ.

II. Tự lập tự cường

1. Tin vào bản thân mới có thể sớm tự lập. Tin tưởng và dựa vào bản thân là biểu hiện cao nhất của sự tự lập, nó giúp trẻ không lùi bước trước khó khăn và dũng cảm tiến về phía trước; tự lập giúp trẻ mạnh dạn, nỗ lực vươn tới thành công và để đạt được ước mơ. Vì vậy họ luôn rất yêu con nhưng không nuông chiều con và luôn có nguyên tắctôn trọng quyết định của con và bồi dưỡng ý thức độc lập cho con; rất quan tâm giáo dục kĩ năng sống tự lập và coi đó là tiền đề giúp trẻ nhận thức ý nghĩa sống dựa vào năng lực bản thân mà không dựa dẫm vào bố mẹ.

2. Bí quyết để có khả năng sinh tồn mạnh mẽ. Một dân tộc sinh tồn trong khó khăn, gian khổ, ngoài trí tuệ tuyệt vời, họ đều nhận thức rõ về điều kiện sống và địa vị sinh tồn của dân tộc mình. Họ tồn tại được đến ngày nay là bởi phẩm chất kiên cường, ý chí bất khuất, không chịu bỏ cuộc để từng bước vươn lên. Người Do Thái thường nói “Học cách sinh tồn từ việc nhỏ, học khả năng khác từ việc lớn”. Họ luôn quan tâm bồi dưỡng khả năng kiên trì, bền bỉ và có trách nhiệm cho con cái từ những việc nhỏ; luôn kiên quyết từ chối những yêu cầu không hợp lý của con; giúp con đặt kế hoạch và mục tiêu học tập hợp lí và khoa học; tạo cơ hội khuyến khích trẻ làm một việc gì đó lâu dài.

3. Con bắt đầu lao động từ lúc 2 tuổi. Trong quan niệm của người Do Thái, một người muốn thành đạt cần thông minh và chăm chỉ. Vì vậy họ luôn quan tâm bồi dường tình yêu lao động cho con, nhiều trẻ em ngay từ nhỏ đã được hướng dẫn làm những công việc nhà một cách phù hợp. Họ sắp xếp công việc cho trẻ, quan tâm giao những việc trẻ có năng lực, thích làm để tăng khả năng và làm những việc trẻ hay mắc lỗi, sợ sệt để rèn luyện. Tất nhiên không thể kỳ vọng vào kết quả hoàn hảo từ trẻ nhỏ, họ không bao giờ trách mắng con, luôn khích lệ và khen ngợi con cái.

4. Niềm tin. Người Do Thái thường dạy con “Tự tin giúp con người cố gắng khắc phục khó khăn, chiến thắng thất bại, đạt được thành công. Nếu con có đủ tự tin và luôn cố gắng, con sẽ làm được mọi việc”. Để bồi dưỡng sự tự tin cho trẻ, họ quan tâm loại trừ tâm lí tự ti , thông qua việc tôn trọng con cái, đứa con biết rằng bản thân mình rất quan trọng; cha mẹ luôn cổ vũ động viên trẻ thông qua những tấm gương người thành đạt; khen ngợi và cổ vũ thích hợp; không làm giúp trẻ; và giúp trẻ thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của mình, phân tích nguyên nhân tạo ra khuyết điểm đó và tìm cách khắc phục. Sự tự tin trong trẻ không những giúp trẻ miễn dịch với cái xấu mà nó giúp cho trí tuệ của trẻ được phát ra giống như mạch nước ngầm trong lòng đất sẽ phát lộ và phun trào như dòng suối.

5. Trừng phạt con hợp lí sẽ mang lại hiệu quả đối với con. Trẻ còn nhỏ không tránh khỏi những sai xót, việc nhắc nhở và trừng phạt là cần thiết. Tuy nhiên không được thiếu tôn trọng trẻ, không được trách mắng mù quáng và trừng phạt không đúng cách sẽ ảnh hưởng đến sự trưởng thành của trẻ. Chỉ có những biện pháp trừng phạt hợp lí, khoa học trách phạt nhưng vẫn tôn trọng trẻ, mới giúp trẻ giảm bớt những hành vi không đúng. Cha mẹ người Do Thái được hướng dẫn đặt và trả lời 10 câu hỏi trước khi trừng phạt trẻ: 1. Mục đích của sự trùng phạt này là gì?; 2. Cách phạt này có ngăn chặn được hành vi không đúng của trẻ không? 3. Cách phạt này có giúp trẻ hiểu được hành vi sai trái của mình không? 4. Tại sao mình lại trừng phạt con, có phải vì mình đang tức giận không? 5. Có phải xuất phát từ sự kích động mà mình trừng phạt con không? 6. Khi không tức giận, mình có trừng phạt con như vậy không? 7. Cách phạt này có làm con cảm thấy xấu hổ hoặc tủi thân không? 8. Không còn cách nào khác ư? 9. Cách trừng phạt này là một phần của kế hoạch ư? 10. Có phải mình luôn trừng phạt con như vậy?

6. Con là một đứa trẻ dũng cảm. Các bậc cha mẹ đều mong muốn con mình dũng cảm, mạnh dạn, không nhút nhát, sợ bóng tối, sợ “ma quỷ”, dám đương đầu với khó khăn, không ỷ lại vào người khác, bình tĩnh tự tin và suy nghĩ tìm cách giải quyết khó khăn để đạt mục tiêu. Để đạt được mong muốn đó, cha mẹ người Do Thái luôn tự mình xây dựng tấm gương tốt cho trẻ noi theo; luôn tôn trọng trẻ, tìm nguyên nhân để giải thích và lựa chon cách thích hợp giúp trẻ không sợ hãi và loại bỏ tâm lý sợ hãi; quan tâm bồi dưỡng tính tự lập, độc lập giải quyết vấn đề cho trẻ.

7. Dũng cảm thể hiện bản thân. Rèn luyện cho trẻ thói quen dũng cảm thể hiện khả năng của bản thân, không chỉ giúp trẻ nhanh chóng hoà nhập với tập thể, thích ứng với xã hội, mà còn tăng tỉ lệ thành công trong tương lai. Tất nhiên cùng với nó cần dạy trẻ nhận thức đúng đắn chính mình, điểm mạnh, hạn chế và khả năng của bản thân để thể hiện sở trường, điểm mạnh và khắc phục những hạn chế. Họ luôn hiểu và đồng cảm với những trẻ nhút nhát, cổ vũ động viên trẻ và rèn luyện khả năng thể hiện bản thân ở nơi đông người.

8. Thất bại chẳng là gì đối với con. Trong cuộc đời con người, không ai không có lần thất bại và vấp ngã, nhưng điều đó không đáng sợ, điều đáng sợ là sau khi vấp ngã không có đủ dũng khí để đứng lên, không rút được những bài học kinh nghiệm bổ ích để vững vàng đi tiếp. Mỗi khi con cái thất bại, cha mẹ người Do Thái luôn chú ý tới thái độ của mình, không chỉ trích mắng mỏ , mà luôn luôn cổ vũ, an ủi con. Để giáo dục con, họ chủ động đặt ra một số khó khăn cho trẻ để rèn luyện, thử thách. Nếu con thất bại, họ sẽ hướng dẫn trẻ tìm cách vượt qua những chướng ngại và thử thách để đạt được thành công, từ đó tăng thêm dũng khí cho trẻ.

9. Chăm chỉ luôn là phẩm chất tốt đẹp của con. Chăm chỉ là một phẩm chất cần có của người Do Thái, vì vậy họ bồi dưỡng thói quen lao động cho trẻ từ nhỏ để rèn luyện đức tính chăm chỉ và kỹ năng sống cho trẻ. Họ khen ngợi kịp thời sự chăm chỉ của trẻ, những việc có thể làm được thì giao cho trẻ và họ đặc biệt quan tâm đến bồi dưỡng thói quen học tập chăm chỉ cho trẻ từ nhỏ. 

Nguồn: jis.edu
  • 16.3k lượt xem1 bình luận
  • Khác
    • Chia sẻ
    • Sao chép liên kết
    • Báo cáo
Báo cáo vi phạm
Để giúp cho cộng đồng Bé Yêu tốt hơn, hãy mô tả sự cố mà bạn gặp phải?